Đà Lạt

Đà Lạt và lương tâm một thế hệ kiến trúc

đà lạt và lương tâm một thế hệ kiến trúc

Đà Lạt mới chỉ 126 tuổi, là một đô thị quá trẻ, nhưng trong từng khúc quanh lịch sử, luôn phóng chiếu ước mơ về một đô thị lý tưởng.

Có những bước chuyển tiếp của xã hội chính trị dễ dẫn đến đứt gãy giá trị, song, chính những những kiến trúc sư, quy hoạch sư nhận thức được sứ mệnh và trách nhiệm đã tạo ra sự tiếp biến khá êm đềm. Như thời kỳ chuyển tiếp từ một thành phố do người Pháp kiến tạo, làm chủ sang một thành phố của người Việt với diện mạo hiện đại, diễn ra cuối thập niên 1950.

Một thế hệ “Xây-Dựng-Mới”

đà lạt và lương tâm một thế hệ kiến trúc

Chợ Mới Đà Lạt, năm 1960. Ảnh: Tư liệu

Trong thời Pháp thuộc, đặc biệt, trong thập niên 1930-1940, không gian kiến trúc đô thị của Đà Lạt được kiến tạo bởi những kiến trúc sư Pháp tài năng, có ảnh hưởng ở Đông Dương như Alexandre Léonard, Paul Veysseyre hay Arthur Kruze… triển khai trên thành quả các đồ án quy hoạch, chỉnh trang đô thị có triết lý của Paul Champoudry, Ernest Hébrard, Louis Georges Pineau, H. Mondet, Jacques Lagisquet.

“Phương Tây” hay “rất Tây” là cách nói chung chung thời bấy giờ khi nhắc về một không gian di sản với hơn 1.000 biệt thự xinh đẹp mà người Pháp để lại sau gần 30 năm xây dựng thành phố, tính từ 1915 đến 1945.

Sau khi người Pháp rời đi, Đà Lạt có sức hấp dẫn đặc biệt với những kiến trúc sư hàng đầu của miền Nam. Các kiến trúc sư tên tuổi của Sài Gòn thời bấy giờ, trước và trong khi triển khai các công trình tại Đà Lạt cũng đã có quá trình nghiên cứu lịch sử kiến trúc đặc thù của đô thị này để hình thành một hình thái, triết lý phát triển mới cho Đà Lạt.

Các tờ báo như Sáng dội miền Nam, Xây dựng mới đều cho thấy sự “tiếp cận Đà Lạt” đầy công phu theo chiều kích văn hóa kiến trúc. Trong đó, phải kể đến tờ Xây dựng mới số 3, tháng 6 năm 1958. Tờ báo cho kiến trúc sư Võ Đức Diên làm Thư ký tòa soạn này đã tổ chức một chuyên đề khá hay về Đà Lạt. Ngoài việc mô tả những nét chính trong kiến trúc nhà ở, dinh thự Đà Lạt dưới con mắt của “dân nhà nghề”, số báo nói trên cũng trình bày những nhận thức chính của giới kiến trúc, quy hoạch cho thấy tình cảm, ưu tư và chiều hướng phát triển  mà họ mong muốn ở thành phố này.

Sứ mệnh và trù liệu

đà lạt và lương tâm một thế hệ kiến trúc

Lữ quán Thanh niên và Lao động, một công trình của KTS. Võ Đức Diên. Ảnh: Tư liệu

Đâu là một giải pháp giữ được sự hài hòa với các giá trị đã định hình trong lịch sử, đồng thời đáp ứng yêu cầu mới của thời đại?

Kiến trúc sư Hoàng Hùng, giữ trọng trách quản lý ở Tổng Nha Kiến thiết, đồng thời là Chủ nhiệm Xây dựng mới đã nêu quan điểm: “Đà Lạt không thể, như quan niệm kiến-trúc cũ, chỉ là nơi nghỉ mát riêng của giới phong-lưu, tư-sản. Phong cảnh non xanh, nước biếc, sương phủ, mây bay của nó là báu vật vô giá, chung cho toàn cả nhân-dân. Người ở lại đó làm ăn sinh sống, cũng như người ghé lại đó ít ngày, để thực mắt thấy nơi danh-lam thắng-cảnh vào bực nhất đất nước, ai cũng cảm thấy cần đem sức người tô điểm cho Đà Lạt mỗi ngày một đẹp hơn, và mỗi ngày một xứng đáng là hòn ngọc của cả cõi trời Đông-Nam-Á này” (Xây dựng mới, số 3; 1958)

Ông nhận ra việc được “tiếp cận” Đà Lạt là một may mắn và vinh dự của thế hệ mình, đồng thời cũng là một thử thách: “Nếu chúng ta không làm được, ấy là chúng ta phụ cảnh thiên-nhiên. Chớ cảnh thiên-nhiên không hề phụ chúng ta. Và nếu chúng ta làm cái gì kệch-cỡm mất duyên dáng của Đà Lạt thì lương-tâm chúng ta sẽ cắn rứt trọn đời. Bởi mỗi du-khách bản-xứ hay ngoại-quốc nhìn thấy những gì chướng mắt lại sẽ nhắc đến chúng ta với một lời mai mỉa”.

đà lạt và lương tâm một thế hệ kiến trúc

Giáo Hoàng Học viện Thánh Pio X (KTS. Tô Công Văn thiết kế). Ảnh: Tư liệu

Bài viết này cũng giới thiệu một chương trình trù liệu chất chứa nhiều trách nhiệm và tình cảm dành cho Đà Lạt. Chương trình trù liệu ấy gồm đầy đủ những công trình giao thông, không gian công cộng trong đô thị, công trình dịch vụ an sinh, cơ sở vật chất cho vùng phụ cận (thời gian này, Đà Lạt đã có chương trình mở rộng, giãn dân ra ngoại ô sau đợt nhập cư ồ ạt khoảng 1954-1957 từ các tỉnh miền Bắc…).

Triết lý về một thành phố, đúng như câu cách ngôn thuở ban đầu gắn trên chợ cũ Đà Lạt “Dat Aliis Laetitiam Aliis Temperiem” (Cho người này niềm vui, cho người khác sức khỏe) –  được tái hiện với một tinh thần mới, đó là một đô thị vị nhân sinh, đem lại nguồn hạnh phúc cho con người. Điều đó được tạp chí Xây dựng mới diễn giải như sau: “[Đà Lạt] khiến cho người làm ăn tại đó tìm thấy cách sống đầy đủ và tiện phát-triển nhân-tính của mình, người du-khách  thích cái đẹp thiên-nhiên cũng tìm thấy ở đó những gì  đầy thi-vị, người thích cái đẹp tân-thời  cũng nhìn thấy ở đó những gì lộng lẫy huy-hoàng, và người thích cái đẹp trừu-tượng cũng nhìn thấy ở đó những gì là ý-nghĩa thâm-trầm cao-cả. Đà Lạt ngày mai phải là một vườn hoa lớn mà mỗi bước chân đi người ta lại phải dừng lại để say sưa với một vẻ đẹp khác, mà nhìn nhận cái công thêu hoa dệt gấm lên đất nước, là công của thế-hệ chúng ta: thế-hệ Xây-Dựng-Mới.”

Từ diễn ngôn ấy, có thể hiểu kiến trúc Đà Lạt đã sang trang.

Vài năm sau đó, Đà Lạt bắt đầu có những khối nhà lớn, cao 3-4 tầng, với công năng phong phú, ngôn ngữ kiến trúc tân kỳ, mạnh mẽ, khúc chiết, hiện đại như Giáo Hoàng Học viện Thánh Pio X (KTS. Tô Công Văn thiết kế), Chợ Đà Lạt (KTS. Nguyễn Duy Đức thiết kế, KTS. Ngô Viết Thụ bổ sung thiết thế), Trung tâm Nghiên cứu Nguyên tử Đà Lạt (KTS. Ngô Viết Thụ thiết kế), Lữ quán Thanh niên và Lao động (KTS. Võ Đức Diên thiết kế)…

Những kiến trúc sư tài năng nhất của miền Nam đã đến với Đà Lạt với niềm vinh dự và ý thức “tô điểm cho Đà Lạt ngày một đẹp hơn, mỗi ngày một xứng đáng là hòn ngọc của cả cõi trời Đông-Nam-Á này” và với sự ký thác trách nhiệm trong từng công trình, đồ án. Vì họ hiểu “nếu chúng ta làm cái gì kệch-cỡm mất duyên dáng của Đà Lạt thì lương-tâm chúng ta sẽ cắn rứt trọn đời”.

NGUYỄN VĨNH NGUYÊN / Tuổi Trẻ, Số 81/31-3-2019

BÀI VIẾT HAY ĐỪNG BỎ LỠ